Hội thảo tổng kết dự án “Mở rộng và thúc đẩy mô hình quản lý Môi trường Nông thôn dựa trên quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP)”

Tham dự Hội thảo có đại diện các đơn vị thuộc Tổng cục Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung ương Hội Phụ nữ, Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), đại diện lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và PTNT, Hội Phụ nữ, Trung tâm khuyến nông các tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu long. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Phạm Anh Tuấn đã đến dự và chủ trì Hội thảo. Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản nước ta có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp tỷ trọng lớn trong sản xuất thủy sản và đặc biệt là góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Cùng với sự phát triển nhanh và mạnh, nuôi trồng thủy sản nước ta đang đứng trước những thách thức lớn, đó là Thị trường xuất - nhập khẩu thủy sản thế giới ngày nay được tổ chức rất chặt chẽ, phần lớn do các hệ thống siêu thị đa quốc gia khống chế kiểm soát. Do tri thức của giới tiêu thụ ngày càng cao nên yêu cầu của siêu thị về chất lượng thủy sản ngày càng khắt khe hơn, trở thành rào cản đối với rất nhiều nước đang phát triển nghề nuôi thủy sản với mục tiêu đóng góp tỷ trọng lớn cho GDP của đất nước, trong đó có Việt Nam. Nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã phát triển nhanh và mạnh nhờ vào lợi thế về diện tích tiềm năng mặt nước, qua quá trình phát triển, đã du nhập, thử nghiệm, cải thiện và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới để đa dạng hóa đối tượng nuôi cũng như nâng cao chất lượng và hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản, tạo cho nghề nuôi trồng thủy sản có những bước tiến vượt bậc. Nhưng trong quá trình phát triển, nghề nuôi trồng thủy sản nước ta đã bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng sản phẩm và khâu an toàn vệ sinh, đặc biệt là tập quán sản xuất tự phát của nông dân. Tính bền vững trong nuôi trồng thủy sản còn ẩn chứa nhiều rủi ro vì người nuôi chưa thật sự áp dụng những quy trình nuôi một cách an toan. Trong bối cảnh nước ta gia nhập tổ chức thương mại Thế giới WTO vừa mang đến lợi thế cho ngành nuôi trồng thủy sản là có một sân chơi lớn và công bằng, đồng thời cũng bắt buộc người sản xuất phải đối diện ngay với 4 luật chơi cực kỳ khó khăn. Đó là khẩn trương xây dựng quy trình ứng dụng nuôi trồng thủy sản an toàn; sản xuất nguyên liệu tập trung; có chất lượng cao, đảm bảo yêu cầu về an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Để giải quyết thách thức này, việc mở rộng và thúc đẩy mô hình quản lý Môi trường Nông thôn dựa trên quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) là một chìa khóa thành công và bền vững cho nghề NTTS nước ta. Để từng bước giải quyết những thách thức trong NTTS, dưới sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển quốc tế Tây Ban Nha (AECID) Tổng cục Thủy sản đã chủ trì phối hợp với Hội Phụ nữ Việt Nam, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) và một số địa phương phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản triển khai dự án “Mở rộng và thúc đẩy mô hình quản lý Môi trường Nông thôn dựa trên quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP)” . Trong khoảng thời gian rất ngắn (năm 2011), dự án đã tiến hành nhiều hoạt động và đạt được những kết quả mong đợi: Đã hỗ trợ cho các chuyên viên Tổng cục Thủy sản và các chuyên gia xây dựng và hoàn thiện bộ Quy phạm VietGAP trong nuôi trồng thủy sản, kết quả đã đạt sự thống nhất cao và đã ban hành được bộ phạm VietGAP (quyết định số 1503/QĐ-BNN-TCTS, ngày 07/7/2011 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT); hỗ trợ cho việc đào tạo chuyên gia và tổ chức chuyến làm việc với GlobalGAP tại CHLB Đức nhằm chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác kỹ thuật; Tiến hành các lớp tập huấn phổ biến kiến thức về VietGAP cho Chuyên viên, cán bộ Vụ nuôi trồng thủy sản, TTKNQG, MCD; Đội ngũ cán bộ và khuyến ngư viên của TTKN và Sở NN&PTNT các tỉnh; Đội ngũ khuyến ngư viên các trạm KN và nông dân nuôi trồng thủy sản các tỉnh Hải Phòng, Bạc Liêu, An Giang và Đồng Tháp; Qua đó đã tập huấn được 20 lượt cán bộ, chuyên viên của TCTS và các đơn vị khác; 113 khuyến ngư viên cấp tỉnh; 1020 nông dân tham gia NTTS; Thiết kế, xây dựng và phát hành các tài liệu hướng dẫn, Bộ hướng dẫn thực hành theo tiêu chuẩn VietGAP được ban hành chính thức ngày 18/7/2011 tại Quyết định số: 1617/QĐ-BNN-TCTS của Bộ NN&PTNT; Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) đã tiến hành lựa chọn các hộ nuôi thí điểm tại Bạc Liêu (tôm sú), Hải Phòng (tôm chân trắng) và Đồng Tháp (cá tra) với tiêu chí chọn những hộ nông nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ, là những đối tượng có ít nguồn lực và bị hạn chế về kiến thức kỹ thuật để phát triển sản xuất; hỗ trợ kỹ thuật và giám sát quy trình áp dụng thực hành tại các mô hình thí điểm; tạo điều kiện cung cấp vật liệu và nhân lực cần thiết cho việc xây dựng mô hình. Qua dự án, Trung tâm đã triển khai được 12 mô hình với kết quả đạt được rất khả quan: Hầu hết các hộ nuôi đều đạt trên 50% các tiêu chuẩn VietGAP. Có 2 hộ dưới 50%. 4 hộ trên 70%; đã thành lập câu lạc bộ GAP (thành viên tham gia, kế hoạch hoạt động, soạn thảo quy chế) và xây dựng các tài liệu kỹ thuật theo tiêu chuẩn VietGAP: hướng dẫn đánh giá mối nguy sức khỏe vật nuôi, hướng dẫn đánh giá mối nguy an toàn vệ sinh thực phẩm, kế hoạch quản lý sức khỏe vật nuôi và các quy trình kỹ thuật. Dự án thông qua Hội Phụ nữ đã thiết kế và lập kế hoạch chiến dịch nâng cao nhận thức về VietGAP cho phụ nữ các tỉnh: Bạc Liêu, Hải Phòng, An Giang, Đồng Tháp, Quảng Ninh, Sóc Trăng và Trà Vinh; tổ chức tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, ti vi, báo chí…; Tổ chức hội thảo và các buổi tuyên truyền thông qua mạng lưới của Hội Phụ nữ và tiến hành nghiên cứu xã hội về những tác động của chiến dịch này. Qua đó, 5000 phụ nữ đã được tuyên truyền về lợi ích của sản phẩm sạch theo tiêu chuẩn VietGAP và về bình đẳng giới. Tại Hội thảo, các đại biểu đã nêu nhiều ý kiến về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án và những ý kiến liên quan đến việc chỉ đạo triển khai ứng dụng VietGAP và đề xuất các phương hướng, biện pháp triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Trong đó tập trung vào các vấn đề hoàn thiện các tiêu chí, quy trình chứng nhận VietGAP, sớm ban hành sổ tay hướng dẫn đánh giá cấp chứng nhận. Hiện nay chưa có cơ quan cấp chứng nhận VietGAP, do đó cần sớm xây dựng các cơ quan có đủ năng lực chứng nhận với quan điểm xã hội hóa công tác chứng nhận trong quá trình thực hiện và cần có lộ trình cụ thể để xây dựng đội ngũ này. Theo các đại biểu, với bộ Quy phạm VietGAP đã bao trùm nhiều chứng nhận của các tổ chức phi chính phủ đang áp dụng tại Việt Nam, do đó cần xây dựng một bộ tài liệu chuẩn áp dụng cho bộ Quy phạm này. TRong thời gian tới, tiếp tục xây dựng mô hình mẫu về áp dụng VietGAP để tiến hành nhân rộng và xây dựng chuỗi liên kết dọc trong sản xuất nuôi trồng thủy sản. Một số đại biểu của nêu ra những băn khoăn khi triển khai VietGAP đối với những hộ NTTS quy mô nhỏ do diện tích hẹp, trình độ văn hóa thấp và để triển khai một cách thuận lợi cần phải đơn giản hóa các bảng biểu ghi chép cũng như tổ chức tuyên truyền phù hợp với đối tượng người nông dân. Phát biểu kết luận Hội thảo, Phó Tổng cục trưởng Phạm Anh Tuấn đã nhận định, các kết quả đạt được của dự án đã bước đầu hỗ trợ cho việc áp dụng Quy phạm thực hành VietGAP tại Việt Nam. Phó Tổng cụ trưởng nhấn mạnh, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số vấn đề sau: Cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và người nông dân hiểu rõ hơn về VietGAP, tại sao phải áp dụng VietGAP trong NTTS và việc áp dụng sẽ mang lại lợi ích gì cho người nông dân. Bước đầu việc triển khai ứng dung VietGAP là tự nguyện đối với các tổ chức, cá nhân NTTS, tuy nhiên cần từng bước hướng tới mục tiêu là đáp ứng yêu cầu của thị trường cũng như đảm bảo các vấn đề về môi trường trong NTTS. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh bộ quy phạm cho phù hợp với thực tiễn; sớm hoàn thiện các tiêu chí đánh giá, quy trình chứng nhận;  Xây dựng năng lực cho các cơ quan chứng nhận, khởi đầu tập trung vào các đơn vị dịch vụ công; Để việc áp dụng VietGAP một cách hiệu quả, cần có lộ trình chứng nhận theo cấp độ áp dụng trên cơ sở các tiêu chí đạt được. Xác định rõ quy mô đào tạo gắn với việc triển khai áp dụng trên thực tế, đặc biệt là đào tạo ToT, cần tập trung đào tạo các cán bộ chuyên sâu với số lượng tập trung hơn (khoảng 20 cán bộ cấp Trung ương). Song song với việc hoàn thiện các quy định, quy trình thực hiện, cần tiếp tục triển khai thêm các mô hình áp dụng VietGAP và mô hình liên kết chuỗi trong NTTS nhằm góp phần cho nghề NTTS nước ta phát triển một cách bền vững.

File đính kèm: Hội thảo tổng kết dự án “Mở rộng và thúc đẩy mô hình quản lý Môi trường Nông thôn dựa trên quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP)”