Liên kết chuỗi trong sản xuất và tiêu thụ cá tra: Kinh nghiệm từ Na Uy

Thảo luận nhóm: Người cung cấp dịch vụ (thuốc, thức ăn, hóa chất...) trong mối liên kết chuỗi

Thương hiệu cá hồi Na Uy được xây dựng dựa trên chất lượng. Mọi cá nhân, tổ chức tham gia chuỗi sản xuất cá hồi đều phải tuân thủ theo tiêu chuẩn chất lượng đó. Chiến lược marketing của Na Uy được bắt đầu thực hiện từ năm 1980 và vẫn tiếp tục kéo dài đến tận ngày nay.

Bên cạnh thương hiệu riêng của từng công ty thì tất cả các công ty đều phải sử dụng chung một thương hiệu quốc gia cho sản phẩm cá hồi. Thương hiệu không chỉ là cái tên mà còn là chất lượng của sản phẩm.  Ngoài ra, chính phủ Na Uy còn tạo điều kiện về cơ sở pháp lý cho các DN XK cá hồi có thể trích nộp 1% tổng kim ngạch XK cá hồi để phục vụ hoạt động maketing. Ông Johán H. Williams, Chủ tịch Hội đồng Thủy sản (COFI) của FAO, Chủ tịch Ủy ban Nghề cá Đông Bắc Bắc Băng Dương cho biết, không nên dùng tiền của nhà nước để đầu tư vào thương hiệu cũng như các hoạt động marketing cho cá tra vì sẽ có nguy cơ bị đánh thuế chống trợ cấp.

Na Uy đã thành lập Hội đồng Xuất khẩu thuỷ sản (NSEC) - một tổ chức phi chính phủ - để triển khai việc xây dựng thương hiệu chung, nghiên cứu thị trường, quảng bá, thống kê, lập kế hoạch và giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại cá hồi. Nhờ có NSEC nên thuỷ sản Na Uy tạo dựng được vị trí vững chắc trên thị trường và cá hồi nuôi của Na Uy đã lần lượt chinh phục các thị trường khó tính nhất. Luật Na Uy quy định DN hoạt động XK phải thực hiện các quy tắc của NSEC và đóng phí theo tỷ lệ. Theo các chuyên gia Na Uy giải thích, quy định này là để xác định trách nhiệm của DN với cộng đồng và ngăn chặn các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, phá huỷ nỗ lực chung.

Ông Johán H. Williams: cần chú trọng chất lượng sản phẩm cá tra và tập trung xây dựng thương hiệuÔng Williams cho rằng điều cốt lõi là Việt Nam phải tạo được thương hiệu cho cá tra, trong đó ông nhấn mạnh đến chất lượng của sản phẩm, ngoài cái tên của thương hiệu.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch VASEP khẳng định: Ngành cá tra mong muốn có một thương hiệu cho cá tra gắn với mục tiêu chất lượng cao, vì tiêu chuẩn VietGAP đang ở mức tương đương hoặc có thể thấp hơn GlobalGAP, vậy nên chăng xây dựng riêng cho sản phẩm cá tra một tiêu chuẩn gắn với một thương hiệu cụ thể như “Vietpanga®” do chuyên gia Na Uy đề xuất hoặc “Vietpangasius”, tương ứng với chất lượng cá tra loại tốt nhất.

Theo ông Phạm Anh Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản, việc xây dựng thương hiệu thông qua chất lượng để được thị trường công nhận là rất quan trọng. Nhưng thực tế của nghề nuôi 2 loài cá này lại khác nhau và cá tra Việt Nam khác với cá hồi Na Uy. Ở Na Uy, phần đông là các DN lớn tham gia vào chuỗi sản xuất cá hồi trong khi ở Việt Nam, số người trực tiếp tham gia vào chuỗi sản xuất cá tra rất nhiều nhưng số người tham gia gián tiếp vào chuỗi sản xuất còn nhiều hơn. Đó là sự khác biệt rõ rệt để chúng ta có cách tiếp cận sao cho vừa học hỏi được kinh nghiệm của Na Uy nhưng cũng vừa phù hợp với thực tế của ngành cá tra Việt Nam.

Sự sụp đổ hay đi xuống của ngành cá hồi Na Uy năm 1991 cũng là cơ hội để Na Uy tái cấu trúc  ngành cá hồi và họ đã làm được, thậm chí làm rất tốt. Vì vậy, từ kinh nghiệm của Na Uy, trong bối cảnh của nước ta, ngành cá tra chỉ đi vào chất lượng xây dựng thương hiệu là chưa đủ mà còn phải xây dựng khung pháp lý để quản lý. Tuy nhiên, khi có khung pháp lý nhưng việc thực hiện cũng không dễ vì còn yếu tố văn hoá và truyền thống từ nhiều đời nay trong cách hành xử của người nông dân. 

Ông Paul Birger Torgnes: việc liên kết giữa các công ty cũng rất quan trọngNa Uy đã “vực dậy” thành công ngành cá hồi sau khủng hoảng bằng “cấu trúc mới” của ngành, trong đó nổi lên là các công ty lớn đa chức năng, một số công ty có các hoạt động toàn cầu, có mối liên hệ trực tiếp giữa nhà sản xuất và khách hàng, và đặc biệt chú trọng phát triển các sản phẩm mới.

Theo ông Paul Birger Torgnes, Phó Chủ tịch Liên hiệp Sản xuất Thủy sản Châu Âu (FEAP) và là CEO của nhiều công ty nuôi trồng thủy sản Na Uy, việc liên kết giữa các công ty cũng rất quan trọng, nhưng mỗi công ty có những cách liên kết sản xuất khác nhau, kể cả hợp nhất các công ty có quy mô nhỏ. Các chuyên gia Na Uy cho biết, năm 1991 Na Uy có tổng cộng 800 công ty nuôi cá hồi nhưng hiện nay chỉ còn 96 công ty, trong đó có 14 công ty lớn chiếm 80% tổng sản lượng cá hồi nuôi (khoảng 1 triệu tấn) của cả nước.

Một hình thức liên kết theo kiểu hợp nhất như công ty nuôi cá hồi của ông Williams không chỉ sản xuất cá hồi mà còn “thâu tóm” cả hệ thống phân phối, bán lẻ ở nước NK để chủ động trong khâu phân phối trên thị trường bằng cách mua lại một số công ty phân phối. Trong khi đó, có không ít các nhà sản xuất Na Uy lại liên kết với các chuỗi siêu thị lớn như Walmart, Tesco… hoặc cũng có nhiều DN liên kết thành viên góp vốn theo tỷ lệ 50/50.  

Ông Phạm Anh Tuấn cũng thông báo với các chuyên gia Na Uy về một số hình thức liên kết trong ngành cá tra. Ông Tuấn cho biết, xu hướng các DN chế biến tham gia nuôi cá tra đang tăng dần trong chuỗi giá trị. Hiện đã có nhiều DN chế biến và XK cá tra tham gia nuôi cá, trong đó sản lượng nuôi cá tra của các trang trại có quy mô trên 4 ha chiếm 81% tổng sản lượng, 19% còn lại là sản lượng của các trang trại có quy mô dưới 4 ha; diện tích các trang trại có quy mô trên 4 ha chiếm 56% tổng diện tích, 44% còn lại là diện tích của các trang trại có quy mô dưới 4ha.

Theo ông Tuấn, việc xây dựng mối liên kết giữa nông dân, DN và các thành phần cung ứng dịch vụ trong chuỗi sản xuất là biện pháp tối ưu để phát triển bền vững sản xuất cá tra nhằm đảm bảo lợi ích cho cả người nuôi và nhà chế biến. Tham gia liên kết chuỗi sẽ làm cho từng bộ phận trong chuỗi mạnh lên, đặc biệt là các tổ chức nhỏ lẻ, đồng thời nâng cao được năng lực sản xuất và chuyên môn hóa tốt hơn.

Ông Cao Tuấn Anh – Công ty Cổ phần Thủy sản Việt Thắng cũng chia sẻ về hoạt động liên kết chuỗi trong sản xuất cá tra ngày càng tăng. Hiện có nhiều DN chế biến đã đi theo hướng nắm cả chuỗi sản xuất từ A đến Z, kể cả sản xuất giống, thức ăn, trong đó chú trọng đến 3 khâu là thức ăn, nuôi và chế biến. Quá trình hợp tác trong chuỗi sản xuất sẽ tiếp tục phát triển và ngày càng có quy mô lớn hơn. Trong tình hình giá cá tra tăng giảm thất thường, không đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi, nhất là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, thì hình thức nuôi cá tra gia công cho các công ty chế biến thủy sản với sự hỗ trợ của DN về thức ăn, con giống được xem là một hướng đi mới, khá chắc chắn cho người nuôi cá tra.

Theo các chuyên gia Na Uy, mỗi năm nước này sản xuất khoảng 1 triệu tấn cá hồi nguyên liệu nhưng kim ngạch XK lại đạt tới 5 tỷ USD, vì vậy cá tra của Việt Nam cũng có thể đạt được mục tiêu này trong tương lai bằng cách tập trung tăng giá trị thương mại của cá tra, trong đó tập trung xây dựng tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng, gia nhập thị trường toàn cầu, đồng thời thiết lập “Vietpanga®” như một thương hiệu nổi tiếng về một sản phẩm có uy tín. 


File đính kèm: Liên kết chuỗi trong sản xuất và tiêu thụ cá tra: Kinh nghiệm từ Na Uy